Menu
Menu

Mô Hình Kinh Doanh Mới Trong Nông Nghiệp

Công nghệ đã và đang mở ra cánh cửa cho sự phát triển theo cấp số nhân của nhiều ngành công nghiệp, ngành nông nghiệp lại chưa tận dụng nhiều những tiềm năng này.

Các công ty biết vận dụng công nghệ đúng cách không chỉ thành công trong việc tối ưu hóa các quy trình hiện tại mà còn tạo ra được các mô hình kinh doanh mới, sáng tạo và chiếm lĩnh được thị trường một cách nhanh chóng. Netflix ra đời khiến Blockbuster biến mất, Uber khiến các công ty taxi truyền thống phải lao đao hay Airbnb khiến nhiều khách sạn phải suy nghĩ lại về cách làm việc và dịch vụ đem đến cho khách hàng. Trong suốt những thay đổi mãnh mẽ của thị trường đó, ngành nông nghiệp lại dường như đứng ngoài cuộc chơi.

Mặc dù có xuất phát điểm trong cuộc cách mạng số sau nhiều ngành công nghiệp khác, nông nghiệp cuối cùng đã bắt kịp xu hướng. Quy mô thị trường của nông nghiệp kỹ thuật số được ước tính đạt khoảng 15 tỷ đô la vào năm 2021 (1). Từ IoT giúp người nông dân nắm được trạng thái đất, nước; máy bay không người lái được dùng trong theo dõi tình trạng nuôi trồng; đến sử dụng blockchain nhằm truy xuất nguồn gốc. Có thể thấy công nghệ đang dần được triển khai trong từng bước của chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, trong khi các công nghệ được dùng trong nuôi trồng đang nhận được rất nhiều sự quan tâm thì các mô hình kinh doanh mới trong ngành nông nghiệp lại chưa được chú trọng nhiều.

Bài viết này sẽ đưa ra 2 trong số các mô hình kinh doanh ứng dụng công nghệ mới phổ biển nhất: Thương mại điện tử cho thực phẩm và Phần mềm hỗ trợ sản phẩm vật lý.

Thương mại điện tử cho thực phẩm

Với các nền tảng thương mại điện tử như Amazon, Ebay, Alibaba trên thế giới và Tiki, Shoppee, Sendo hoạt động mạnh mẽ trong nước, có thể thấy thương mại điện tử đã trở thành một phần cuộc sống của mỗi chúng ta. Vậy mà dường như ngành nông nghiệp vẫn là một trong số ít các ngành mà thương mại điện tử chưa gây ảnh hưởng sâu rộng. Việc này có thể được giải thích bằng nhiều lý do khác nhau. Một trong số đó là đặc thù của chuỗi cung ứng nông nghiệp gồm rất nhiều thành phần trung gian giữa nông dân và khách hàng tiêu thụ.

Thông thường, Nông dân sản xuất nông sản, bán cho đại lý; Đại lý lại bán cho nhà máy; Nhà máy bán cho doanh nghiệp bán buôn; Sau đó phân phối như siêu thị trước khi tiếp cận khách hàng (Hình 1). Thứ hai, khách hàng vẫn có thói quen mua thức ăn hàng ngày trong chợ hoặc siêu thị. Ngoài ra, sự phức tạp của khâu logistics nhằm đảm bảo chất lượng tươi sống của sản phẩm cũng là một trở ngại.

Hình 1: Mô hình chuỗi cung ứng truyền thống ngành nông nghiệp

Tuy nhiên, với các tiến bộ công nghệ và khâu vận chuyển hiện tại, cũng như nhu cầu ngày càng cao của khách hàng do cuộc sống hiện đại thương mại điện tử dành cho sản phẩm nông nghiệp đang bùng nổ. Hiện tại có 3 mô hình kinh doanh đối với nền tảng thương mại điện tử cho nông nghiệp:

mô hình kinh doanh
Hình 2: Ba mô hình kinh doanh nông nghiệp trên nền tảng thương mại điện tử
Siêu thị truyền thống mở nền tảng mua sắm trực tuyến:

Đây có thể được xem là mô hình an toàn, vận dụng các thế mạnh sẵn có để giúp khách hàng có trải nghiệm mua hàng tốt hơn. Nhiều siêu thị đã ra mắt dịch vụ giao hàng của riêng mình như Waitrose, với Ocado ở Anh, trong khi các nhà bán lẻ nhỏ hơn đã hợp tác với các công ty giao hàng chuyên nghiệp, bao gồm HappyFresh ở Mỹ và Instacart ở Đông Nam Á. Ở Việt Nam, khi đại dịch Covid-19 bùng nổ cũng khiến cho hàng loạt các siêu thị lớn như Lotte, Vinmart hay Big C cung cấp dịch vụ giao hàng tại nhà.

Các công ty thương mại điện tử mở thêm phân khúc sản phẩm nông nghiệp:

Nhằm bắt kịp xu hướng của thị trường, các ông lớn trong ngành thương mại điện tử đều bán và vận chuyển các sản phẩm nông nghiệp, ví dụ như Amazon Fresh, Alibaba, Flipart, v.v. (2).  Thậm chí, một số công ty thương mại điện tử còn mở các chuỗi siêu thị bán lẻ như Amazon mua lại Whole Food với hơn 400 siêu thị ở Mỹ, trong khi Alibaba có kế hoạch mở 100 siêu thị mang thương hiệu Hema tại Trung Quốc. Các siêu thị này được mở ra nhằm hỗ trợ các giao dịch trực tuyến và hoạt động như một mạng lưới các trung tâm phân phối sản phẩm, giúp rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng.

Các công ty thương mại điện tử cho sản phẩm nông nghiệp thuần túy:

Ngày nay, người nông dân thậm chí đã có các sàn thương mại điện tử cho phép kết nối trực tiếp với người tiêu dùng như Farmstead, Good Eggs, GrubMarket và Imperfect Produce ở Mỹ. Ở Anh, doanh số giữa nhà sản xuất và người mua thông qua những người như Abel & Cole, Farmdrop và Riverford cũng tăng trưởng nhưng vẫn chiếm một phần nhỏ trong tổng thị trường. Chẳng hạn, Riverford đã tạo ra gần 60 triệu bảng vào năm 2018, so với giá trị toàn ngành tại Anh đạt 190 tỷ bảng vào năm 2018 (3).

Bên cạnh đó, các nhà sản xuất nông nghiệp cũng có thể bán sản phẩm cho các bên thứ ba, những người sau đó bán thông qua các nền tảng thương mại điện tử cho người dùng cuối. Điều này đặc biệt phổ biến ở Trung Quốc nơi các công ty thương mại điện tử lớn, như JD, Pinduoduo và Tmall, được hưởng lợi từ cơ sở hạ tầng của logistics tiên tiến ở nước này. Pinduoduo sử dụng mô hình mua hàng sáng tạo, theo đó người dùng mời các liên hệ của họ thành lập một nhóm mua sắm để có được mức giá thấp hơn cho giao dịch mua hàng của họ.

Thực trạng của các mô hình kinh doanh thương mại điện tử

Có thể thấy, 3 mô hình kinh doanh của thương mại điện tử kể trên đã có mặt ở các nước tiên tiến nhưng các tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường của các công ty thương mại điện tử cho nông nghiệp thuần túy vẫn còn khá thấp. Đối với các nước kém phát triển hơn như Việt Nam, mô hình chủ yếu vẫn là siêu thị truyền thống mở nền tảng trực tuyến. Tuy nhiên, mô hình này cũng mới xuất hiện chưa lâu và chưa tối ưu do vẫn còn vướng mắc về khâu vận chuyển. Trong tương lai, 2 mô hình còn lại rất có khả năng sẽ mở rộng, đưa ra các sản phẩm giá thành rẻ hơn, đa dạng hơn cho khách hàng nhằm cạnh tranh với các siêu thị truyền thống.

 

Phần mềm hỗ trợ sản phẩm vật lý

Nông nghiệp là một ngành dựa nhiều vào kinh nghiệm cá nhân và kinh nghiệm có thể đúng cũng có thể sai. Do vậy, chia sẻ kinh nghiệm, dữ liệu giữa nông dân cũng như dọc theo chuỗi giá trị của ngành sẽ mang lại lợi ích đáng kể cho người trong ngành. Hiểu được điều này, một số công ty khởi nghiệp cũng như các công ty lớn trong ngành nông nghiệp đã phát triển các sản phẩm vật lý khác nhau như các loại cảm biến để thu thập dữ liệu.

Một số dữ liệu có thể được thu thập như độ ẩm, chất dinh dưỡng của đất; nồng độ pH trong nước. Hay sử dụng máy bay không người lái để lập bản đồ nuôi trồng và đánh giá chất lượng nông sản trên trang trại. Thay vì chỉ phát triển chức năng cho các thiết bị của mình, các công ty chuyển hướng, phát triển thêm chức năng cho các phần mềm liên kết với các thiết bị đó. Các nội dung, dữ liệu thu thập được sẽ được tổng hợp, ghi nhận, phân tích qua phần mềm. Mô hình này giúp các nhà sản xuất của các sản phẩm vật lý hỗ trợ khách hàng một cách dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn.

Ví dụ cho ứng dụng công nghệ vào thu thập dữ liệu

Cargill – vốn là một công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi. Nay Cargill đã dần trở thành một công ty công nghệ nông nghiệp (agritech) với các sản phẩm số giúp thu thập, phân tích dữ liệu và hỗ trợ người dùng đưa ra quyết định trong quá trình nuôi trồng. Sản phẩm iQuatic ™ của Cargill là một ứng dụng dữ liệu di động được đồng bộ với bảng điều khiển hoạt động của trang trại, giúp trực tiếp cung cấp thông tin chi tiết theo thời gian thực và phân tích dự đoán qua công nghệ học máy (machine learning) và Internet vạn vật (IoT).

Khi nhiều dữ liệu được thu thập, công nghệ tự học sẽ đưa ra những hiểu biết và khuyến nghị ngày càng tốt hơn về lịch trình cho ăn, giảm thiểu rủi ro và thời gian thu hoạch tối ưu. Qua các dữ liệu thu thập được, iQuatic không chỉ đưa ra các đánh giá, dự đoán ngày càng chính xác hơn mà iQuatic còn đưa lại cho Cargill những dữ liệu vô cùng quý giá về cách nuôi trồng của người nông dân cũng như chất lượng các sản phẩm thức ăn chăn nuôi của mình để từ đó, Cargill có thể đưa ra những dòng sản phẩm ngay càng hoàn thiện.

Khó khăn khi ứng dụng công nghệ vào thu thập dữ liệu

Đối với việc sử dụng các thiết bị theo dõi cũng như phần mềm là một thách thức rõ ràng đối với người nông dân để việc áp dụng và làm thế nào để làm cho dữ liệu được thu thập có liên quan và hữu ích cho họ. Đối với nhiều hoạt động nông nghiệp, việc có được và sử dụng một hệ thống phần mềm sẽ là một sự thay đổi lớn từ các phương thức thủ công sử dụng giấy bút mà nhiều người vẫn đang sử dụng.

Do đó, không chỉ các công ty dữ liệu lớn về nông nghiệp cần thuyết phục nông dân thực hiện chuyển đổi, họ cũng cần đảm bảo rằng giao diện có thể dễ dàng sử dụng để nông dân có thể thấy lợi tức đầu tư rõ ràng trong thời gian tương đối ngắn. Một số nông dân có thể có mức độ trưởng thành số tương đối cao và muốn có một hệ thống tiên tiến, trong khi những người khác thực sự bắt đầu từ đầu. Các công ty sẽ cần phải tạo ra các sản phẩm phù hợp với các khả năng công nghệ khác nhau, quy mô hoạt động khác nhau và loại hình hoạt động canh tác khác nhau. Vì vậy, một thách thức chính là làm cho công nghệ thích ứng với nhu cầu của người nông dân, bất kể quy mô hoạt động.

Trong tương lai tới

Mặc dù trong thời điểm hiện tại, mức độ trưởng thành số của người nông dân còn chưa cao, đặc biệt là ở các nước đang phát triển dẫn đến các mô hình kinh doanh mới ứng dụng công nghệ như 2 mô hình trên còn chưa thật sự nở rộ. Tuy nhiên, với số lượng người dùng Internet sẽ đạt 4 tỷ và số lượng thiết bị điện tử lên tới 20 tỷ vào cuối năm 2020 (BCG, 2017) đồng thời với nhu cầu sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao ngày càng gia tăng, xu hướng này sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai. Các mô hình kinh doanh số trong ngành nông nghiệp sẽ ngày càng đa dạng, sáng tạo và sẽ không chỉ phá bỏ cách nuôi trồng truyền thống mà còn thay đổi toàn bộ chuỗi cung ứng vốn còn dài và phức tạp.

 

Nguồn tham khảo
(1) PA Consulting. 2017. Digital Agriculture.
(2) BCG. 2017. New business models for a new global landscape.
(3) Statista. 2020. Market value of grocery retail in the United Kingdom (UK) from 2004 to 2019.

Most popular insight
Phản Ứng Của Các Công Ty Dược Phẩm Trước Tình Trạng Đứt Gãy Chuỗi Cung Ứng Tái Cơ Cấu Và Đột Phá Chuỗi Giá Trị Nông Nghiệp Đo Lường Hiệu Quả Của Chương Trình Tiếp Thị Từ Dữ Liệu Hợp Nhất Sự Chuyển Dịch Từ B2B Sang B2B2C Trong Ngành Sản Xuất
Phương pháp chuyển đổi số
Được đúc kết trong suốt chiều dài hơn 20 năm kinh nghiệm thực tiễn tư vấn và triển khai thành công các dự án chuyển đổi số cho các đối tác đa ngành hàng đầu thế giới, phương pháp luận chuyển đổi số FPT Digital Kaizen™ là nền tảng vững chắc đưa doanh nghiệp vững tiến tới chuyển đổi số thành công.